Archive for Tháng Năm, 2007

Ảnh vườn châu Á khoe sắc giữa châu Âu

Không phải đi hàng chục nghìn km, người Berlin vẫn có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật vườn Á Đông tại công viên Garten der Welt ở quận Marzahn, nơi những khu vườn Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Bali và Ảrập đang khoe sắc.

Liễu rủ bên mặt hồ giữa lòng châu Âu tạo cảm giác như đang ở thành phố Hàng Châu hay Bắc Kinh của Trung Quốc. Đây là khu vườn có diện tích lớn nhất trong số 5 khu vườn châu Á hiện có tại công viên Garten der Welt Berlin.
Con thuyền neo bên bến vắng giữa tiếng gió nô đùa rặng liễu này chỉ là một phần trong khu vườn Trung Hoa, vốn được xây dựng trong suốt 4 năm và hoàn thành vào tháng 10/2000. Đích thân các nghệ nhân đến từ Bắc Kinh đã đảm nhiệm việc thi công bằng các loại gỗ quý và đá truyền thống chở đến từ Trung Quốc.
Trà lầu bên hồ nước theo đúng phong cách Trung Hoa do các nghệ nhân đến từ Bắc Kinh phục vụ, với các loại trà quý như Long Tỉnh pha bằng loại ấm đất Nghi Hưng nổi tiếng. Với diện tích rộng 2,7 hectare, đây cũng là khu vườn Trung Hoa lớn nhất ở châu Âu hiện nay.
Cổng chính dẫn vào khu vườn Seoul mang phong cách Hàn Quốc truyền thống. Đây là thành viên mới nhất trong công viên Garten der Welt Berlin, mới được mở cửa cho công chúng từ ngày 27/4/2006.
Con đường chạy giữa hai hàng hoa chen đá trong khu vườn Hàn Quốc. Sự ra đời của công trình này góp phần biến Garten der Welt trở thành một trong những điểm hút khách của Berlin. Trước khi có các khu vườn châu Á, khu công viên rộng 21 hectare xây từ năm 1987 này chỉ là nơi đi dạo của người dân vùng Marzahn-Hellersdorf.
Một nếp nhà truyền thống Hàn Quốc dựng bên dòng suối uốn lượn. Tất cả công việc xây dựng và thiết kế dòng suối nhân tạo này đều do các nghệ nhân và kiến trúc sư đến từ Seoul thực hiện, bằng hầu hết các loại vật liệu được đưa đến từ xứ sở Kim Chi.
Dòng lạch nhỏ chạy uốn quanh khu vườn Nhật Bản tại Garten der Welt. Công trình có vẻ đẹp tao nhã và khiêm nhường này được khánh thành từ năm 2003.
Ngôi nhà đơn sơ trong khu vườn Nhật Bản như hoà mình vào thiên nhiên xanh ngắt. Hầu hết các loại cây tại đây như oải hương, gỗ thích hay sơn thù du đều được đưa đến từ xứ sở hoa anh đào nhằm tạo cảm giác chân thực cho khách vãn cảnh.
Ngôi nhà tranh dựng bên dòng suối mang phong cách thiền Nhật Bản. Lối thiết kế và bố trí tại khu vườn này khiến cho người đến thăm có cảm giác như được hoà mình vào thiên nhiên và sự tĩnh lặng để suy ngẫm.
Toàn bộ khu vườn mang phong cách đảo Bali Indonesia được bao bọc trong một toà nhà kính có hệ thống điều hoà không khí. Các loài hoa và cây bên trong luôn được sống trong khí hậu của miền nhiệt đới Đông Nam Á, bất chấp nhiệt độ bên ngoài của Berlin có thể xuống đến 18 độ dưới 0 vào mùa đông.
Một loài hoa phong lan đặc trưng đến từ Indonesia trong khu vườn Bali. Tại đây có hàng chục loài phong lan khoe sắc giữa những công trình kiến trúc truyền thống Bali, một bộ phận quan trọng trong nền văn hoá xứ vạn đảo Indonesia.
Cây cọ đặc trưng của vùng nhiệt đới trong khu vườn Bali, công trình được khánh thành từ tháng 12/2003. Đây được coi là một ví dụ cụ thể của mối quan hệ hợp tác giữa hai thành phố Berlin và Jakarta.
Phong cách Hồi giáo trong khu vườn Phương Đông (Oriental Garden) vuông vắn, được bao bọc bằng một bức tường màu hồng sẫm cao 4 mét. Các hồ nước kín đáo và dàn phun nước là yếu tố chủ đạo của khu vườn mang phong cách Trung Đông này.
Bước vào bên trong vườn Phương Đông và đi dưới những mái hiên lát gạch hoa trụyền thống, người vãn cảnh như được sống lại những ký ức về bộ tiểu thuyết lừng danh Nghìn lẻ một đêm của thế giới Ảrập.
Một góc khác của vườn Phương Đông trong Công viên Garten der Welt, nơi đang có tham vọng tập hợp tinh hoa của nghệ thuật vườn cảnh thế giới. Phong cách nhà vườn Việt Nam sẽ là một điểm nhấn của khu công viên này nếu được xây dựng trong tương lai. Quận Marzahn nơi công viên toạ lạc cũng là khu vực có đông người Việt Nam sinh sống nhất tại Berlin.

Đình Chính (từ Berlin, VnExpress.net)

Advertisements

Tháng Năm 29, 2007 at 2:13 chiều

10 loai hoa lang man nhat

 

Phong lan

 

Tượng trưng cho vẻ đẹp, tình yêu, sự tinh xảo và lôi cuốn.

Cây Irit

 

Mang ý nghĩa của niềm hy vọng và lòng trung thành.

 

Hoa hướng dương

 

 

Bày tỏ lòng mến mộ.

 

Hoa dại

 

Loài hoa mang nghĩa “bất thường, hay thay đổi” đôi lúc là “kỳ quái”.

 

Tử đinh hương

 

 

“Em vẫn yêu anh chứ?”

 

Hoa phăng

 

Sự mê hoặc, quyến rũ.

 

 

 

Hoa ly

 

Mang ý nghĩa về vẻ đẹp.

 

Tulip

 

 

Tình yêu hoàn hảo.

 

Hoa cúc dại

 

Ngây thơ, trong trắng, yêu chân thành.

 

Hoa hồng

 

 

“Anh yêu em!”

 

Huyền Trang

(Tổng hợp)

Tháng Năm 28, 2007 at 1:53 chiều

Kimono Nhật Bản toàn tập

Nói đến thời trang Nhật Bản thì chắc ai ai cũng không thể bỏ qua Kimono. Kimono chính là một trong những niềm tự hào của Nhật Bản, nó gần như trở thành biểu tượng của đất nước xứ phù tang này vậy.

Angel

Hôm nay Angel sẽ giới thiệu tới mọi người một số điều thú vị về Kimono. Thực ra đây là một chủ đề lớn, nếu muốn hiểu rõ thì phải đi sâu tìm hiểu cặn kẽ, nó là cả một công việc khổng lồ và mất nhiều công sức. Ở đây Angel chỉ tóm lược một số thông tin căn bản nhất, giúp mọi người hiểu hơn về Kimono mà thôi.

Kimono thực chất ban đầu có nghĩa là quần áo nói chung nhưng trải qua thời gian, với nhiều thay đổi, nó đã trở thành tên gọi riêng của loại trang phục truyền thống độc đáo này.

Theo truyền thống, áo kimono được may bằng vải dệt từ các nguyên liệu tự nhiên như vải lanh, bông, lụa. Kimono là một chiếc áo choàng được giữ cố định bằng một vành khăn rộng cuốn chặt vào người cùng với một số dây đai và dây buộc, ống tay áo dài và rộng thùng thình.

Kimono có hình dạng khác hẳn với chiếc áo choàng kiểu cổ của Trung Quốc, vốn thường bị nhầm lẫn trong tranh minh hoạ ở các sách của phương Tây. Kimono của nam giới có vành khăn đơn giản và hẹp hơn.

Áo kimono cho phụ nữ thường có các hoạ tiết hoa, lá và các biểu tượng thiên nhiên khác, phản ánh tình yêu thiên nhiên của người Nhật Bản.

Tùy theo tuổi tác của người mặc mà màu sắc được chú ý rất nghiêm ngặt, những màu có gốc sáng, đặc biệt là màu đỏ, được dùng cho trẻ em và phụ nữ trẻ chưa chồng.

Màu sắc của kimono thường để biểu thị cho các mùa trong năm, ngoài ra mỗi một tầng lớp trong xã hội cũng có một loại màu áo kimono riêng.

Đối với người dân thường, khi mặc kimono vào các dịp lễ tết, họ phải đeo một mảnh vải nhỏ có trang trí con dấu riêng của gia đình ở tay áo.

Khoảng từ 30 đến 100 ngày sau khi đứa bé chào đời, gia đình và người thân mang đứa trẻ đến đền thờ để làm một nghi lễ nhỏ. Khi đó đứa trẻ được mặc một chiếc kimono, bên dưới là màu trắng, bên trên là màu sáng (thường là màu đỏ) nếu là bé gái, hoặc màu đen nếu là bé trai. Ngoài ra, vào ngày lễ Shichigosan (15/11) các bé trai và bé gái cũng được mặc kimono.

Đối với những người bước sang tuổi 20, vào ngày lễ Thành Nhân (ngày thứ 2 của tuần thứ 2 trong tháng 1), họ cũng buộc phải mặc kimono.

Có thể chia Kimono ra làm các loại sau:

Furisode: Là loại áo chỉ dành riêng cho những cô gái chưa có chồng. Tay áo rất dài và rộng (thường dài từ 95 đến 115 cm). Thời xưa, các cô gái thường vẫy vẫy ống tay áo để bày tỏ tình yêu với các chàng trai.

Khi một cô gái Nhật Bản bước sang tuổi 20, cô ấy sẽ được công nhận là một người trưởng thành. Cô sẽ được quyền đi bầu cử, phải chịu mọi trách nhiệm về bất cứ một tội lỗi nào do cô gây ra, và được phép hút thuốc, uống rượu công khai.

Rất nhiều cha mẹ mua Furisode cho con gái họ để kỉ niệm bước ngoặt trọng đại này. Furisode là một Kimono dùng để đi lễ, dành cho các cô gái còn độc thân. Furisode có màu sắc tươi sáng và thường làm bằng lụa chất lượng tốt. Trong xã hội của Nhật, mặc Furisode là một tuyên bố rõ ràng rằng đó là một cô gái độc thân đã sẵn sàng để kết hôn.

Một trong những điểm đặc biệt của Furisode là ống tay áo của nó.

Furisode dùng để mặc trong những ngày lễ lớn, như khi đi dự đám cưới hay dự một buổi tiệc trà. Giá của một chiếc Furisode tùy thuộc vào chất liệu vải, kiểu dáng và tay nghề của người may. Một chiếc Furisode thường có giá là 15.000 USD.

Yukata: Là một loại Kimono làm bằng cotton bình thường, dùng để mặc trong mùa hè. Yukata thường mang màu sắc cực kì sáng. Cách thiết kế đơn giản của Yukata là để các cô gái Nhật có thể mặc mà không cần sự giúp đỡ (sau vài lần tập là họ có thể dễ dàng mặc được, bởi Yukata không cầu kì như Furisode).

Ngày nay, Yukata thường dùng để mặc trong ngày Bon-Odori (Ngày hội nhảy truyền thống của Nhật vào mùa hè) và các cuộc hội hè. Hơn nữa, Yukata còn được sử dụng rộng rãi trong các quán trọ truyền thống của Nhật.

Yukata được ưa chuộng bởi chất vải cotton nhẹ nhàng của nó. Vải đã được cách điệu đi từ mẫu vải có kẻ sọc ngang truyền thống. Chiếc thắt lưng cotton của Yukata cũng rất tiện dụng cho ngày thường và đồ mặc ban đêm.

Trong những ngày hội và ngày kỉ niệm sự kiện chung, Yukata thường được mặc với một chiếc thắt lưng rộng hơn, quấn quanh eo và gấp lại ở đoạn cuối. Thông thường hơn, Yukata được mặc với một thắt lưng Obi (thắt lưng thêu), đi cùng với một đôi xăng đan gỗ và một chiếc ví.

Những cô gái và phụ nữ Nhật rất thích những dịp được mặc Yukata của họ. Ngày nay không có nhiều cơ hội phù hợp để mặc những bộ quần áo truyền thống sặc sỡ như vậy. Thời xa xưa, áo Yukata chỉ dùng để mặc ở nhà sau khi vừa tắm xong . Nhưng ngày nay, áo Yukata rất được ưa chuộng (cả đàn ông lẫn phụ nữ đều có thể mặc).

Hầu hết áo Yukata được làm từ vải cotton . Theo truyền thống xưa , áo Yukata thường chỉ có hai kiểu là trắng – xanh đen hoặc xanh đen- trắng, nhưng trong một vài năm trở lại đây áo yukata đã được thiết kế với nhiều màu sắc nổi bật hơn.

Houmongi: Khi một người phụ nữ Nhật Bản kết hôn, cha mẹ thường mua cho con gái họ một chiếc Kimono khác, chiếc Houmongi. Houmongi sẽ thay thế vị trí của Furisode. Houmongi là Kimono đi lễ của những người phụ nữ đã có chồng.

Loại Kimono này thường được dùng trong khi đi tham dự một đám cưới hay tiệc trà nào đó.

Khi đón tiếp một cuộc viếng thăm trang trọng, người phụ nữ sẽ mặc áo Homongi (áo Kimono dùnh để tiếp khách).

Tomesode: Với những người phụ nữ đã kết hôn, họ sẽ không bao giờ được măc áo furisode, dù cho họ có li dị chồng đi chăng nữa. Thay vào đó, họ sẽ mặc áo Tomesode, một dạng áo Kimono với ống tay áo ngắn hơn . Áo Tomesode thường có màu đen , hoặc là nhiều màu khác . Áo Tomesode đen thường được đính gia huy tượng trưng cho họ tộc , đây là dạng áo Kimono chỉ mặc vào các dịp lễ trang trọng (như là đám cưới hoặc đám tang của họ hàng).

Những áo Tomesode nhiều màu khác cũng có thể được mặc vào các dip lễ trang trọng trên (nhưng những chiếc áo này không được đính gia huy, vả lại, khi nhắc đến Tomesode thì đa số người Nhật đều cho rằng nó-phải-là-màu-đen).

Tomesode có nền áo màu đen để đối lập với màu trắng của chiếc Shiromaku (Kimono cưới) mà cô dâu mặc. Tuy nhiên, chiếc thắt lưng thêu và nửa dưới của Tomesode có màu sắc rất sặc sỡ và sáng để tỏ rõ rằng loại Kimono này được mặc trong một dịp vui.

Mofuku: Chỉ được dùng để đi dự đám tang của họ hàng gần. Toàn bộ chiếc Kimono loại này có màu đen. Dù rằng Tomesode và Mofuku không đắt bằng một chiếc Furisode, nhưng giá mỗi chiếc Tomesode hay Mofuku là khoảng 8.000 USD.

Shiromaku: Một cô gái Nhật làm đám cưới theo truyền thống thì sẽ mặc loại Kimono rực rỡ, tráng lệ nhất. Loại Kimono này được gọi là Shiromaku. Đa số mọi người chỉ thuê loại Kimono này bởi nó chỉ được sử dụng trong một ngày, tuy nhiên, giá cho thuê của một chiếc Shiromaku cũng lên tới 5.000 USD.

Nếu bạn để ý kĩ thì bạn có thể thấy ngay rằng chiếc Shiromaku rất dài, dài đến chạm đất. Những chiếc váy cưới trắng truyền thống của phương Tây thường có đuôi váy hay một tấm lụa rất dài, rủ dài ra sau. Còn Shiromaku thì không giống như vậy. Shiromaku dài và tỏa tròn ra. Chính vì vậy, cô dâu phải có sự giúp đỡ của một người đi kèm theo thì mới có thể đi lại trong chiếc Kimono này. Màu trắng này tượng trưng cho sự tinh khiết của cô dâu cả về thể xác lẫn tinh thần

Váy này cách tân nên không còn dài chấm đất nữa.

Tsumugi: Dành cho tầng lớp nông dân và thường dân.

Tsukesage: Áo này được trang trí theo dạng hoa văn chạy dọc theo thân và lưng áo rồi gắp nhau ở đỉnh vai), áo này được mặc vào các buổi tiệc tùng trà đạo, cắm hoa và đám cưới của bạn bè.

Các phụ liệu mặc kèm theo kimono:

Thắt lưng (Obi): Một cái obi dành cho kimono phụ nữ thường có chiều dài khoảng 4m và chiều rộng khoảng 60cm.Obi được quấn 2 vòng quanh thắt lưng và thắt ở phía sau lưng. Các phụ kiện kèm theo obi:

a. Koshi-himo Koshi-himo là vòng dây đầu tiên quấn quanh thắt lưng.Nó được làm từ những sợi tơ nhuộm màu rồi bện lại như dây thừng.

b. Date-jime là sợi dây thứ hai buộc quanh áo kimono,phủ lên trên sợi dây koshihimo.

c. Obijime Là sợi dây thừng buộc phía trên bề mặt của obi,nó có nhiều màu sắc khác nhau và màu được chọn thường làm nổi bật chiếc obi.

d. Chocho: Nơ bướm Chocho là chiếc nơ được gắn ở đằng sau obi, nhìn thì nó có cấu tạo phức tạp nhưng thực chất rất dễ mang.Chocho gồm hai phần bản rộng và phần nơ. Phần bản rộng có chiều dài 5 feet, chiều rộng là 6 inch, nó được quấn hai vòng quanh thắt lưng rồi được nhét vào phía trong. Phần nơ có một cái móc gắn để gắn vào vào obi.

Kaku và Heko bi dành cho kimono của nam. Kaku là obi dành cho các bộ kimono nam thông thường, đươc maybằng vải cotton,có chiều dài là 3,5 inch. Heko là obi mềm được dành cho các bộ yutaka.

Taiko-musubi: Một dạng thắt lưng khác, được phát minh từ thời Edo, cũng được sử dụng như obi và rất được ưa chuộng.

Dây cài lưng: Vào thời đại Meiji, người Nhật chế tạo ra một vật gọi là dây cài lưng ( obi-jime và obi-age).

Việc sử dụng những dây cài này với nhiều loại kiểu dáng và màu sắc khác nhau đã trở thành một cách để chứng tỏ gu thời trang của người Nhật.

Trâm cài đầu: Vật này dành riêng cho phụ nữ. Thời xưa, mỗi khi mặc áo kimono, phụ nữ Nhật thường điểm tô cho mái tóc của mình bằng những chiếc trâm này. Ngày nay, bạn có thể thay thế chiếc trâm bằng nơ, dây buộc tóc…

Guốc gỗ: Guốc gỗ được sử dụng rất phổ biến tại Nhật cách đây một thế kỉ, guốc của đàn ông thường to, có góc cạnh và thấp, guốc của phụ nữ thì ngược lại, tức là nhỏ nhắn và tròn. Thời xưa, người Nhật không đóng guốc mà họ “đẽo” guốc, tức là họ sử dụng những súc gỗ to để gọt đẽo thành đôi guốc mộc.

Không chỉ phụ nữ mà đàn ông cũng mặc Kimono, từ xa xưa các samurai đã có thói quen mặc Kimono:

Các Samurai của mỗi vùng được phân biệt bằng màu sắc của Kimono và các quần áo này trở thành “đồng phục” chung bao gồm:

Một chiếc Kimono, một lớp áo không có tay khoác bên ngoài gọi là Kamishimo, 1 chiếc quần xẻ như váy gọi là Hakama.

Chiếc Kamishimo được may bằng vải lanh đã được hồ cứng giúp cho bờ vai chắc chắn, nổi bật.

Với rất nhiều loại áo samurai-kimono, những người thợ may ngày càng trở nên khéo léo, lành nghề và việc may áo kimono cũng trở thành một nghệ thuật. Những bộ áo kimono cũng trở nên giá trị hơn và các bậc cha mẹ thường truyền lại kimono cho con cái như một tài sản gia truyền.

Hakama: Hakama là một loại trang phục ngoài, được mặc phủ ngoài áo kimono. Nó có thể được thiết kế giống như một cái quần dài hay giống một cái váy.

Ngày xưa, Hakama được sử dụng như một trang phục phía ngoài có chức năng bảo vệ các Samurai khỏi tuột khỏi ngựa. Ngày nay, Hakama được mặt trong các buổi lễ,các lễ hội truyền thống,tập võ và biểu diễn nghệ thuật. Hakama của nam giới thường có màu đen hoặc xám. Hakama thường được nam giới mặc tuy nhiên bạn cũng có thể bắt gặp các cô gái mặc Hakama màu đỏ trong các đền thờ Shinto.

Nếp gấp của Hakama (5 phía trước, 2 phía sau) có những ý nghĩa biểu trưng sau:

1. Yuki: Lòng quả cảm, sự dũng cảm, tính gan dạ
2. Jin: Sự nhân ái, lòng khoan dung và rộng lượng
3. Gi: Sự công bằng, ngay thẳng và chính trực
4. Rei: Nghi lễ, sự lịch thiệp, lễ độ (cũng có nghĩa là sự cúi đầu)
5. Makoto: sự chân thành, trung thực
6. Chugi: Sự trung thành, tính cống hiến
7. Meiyo: Danh dự, uy tín, vinh quang, danh tiếng, phẩm giá và danh tiếng.

Theo Ngoisao.net

Tháng Năm 27, 2007 at 1:11 chiều


Bài viết mới

RSS Thoi Trang

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

RSS Dan Choi

  • Lỗi: có thể dòng không tin đang không hoạt động. Hãy thử lại sau.

Blog Stats

  • 173,854 hits